50. Sớ Vu Lan III

(Phạm Tướng Nguy Nguy)

 

Nguyên văn:

 

伏以

梵相巍巍、沙界仰無邊之勝福、齋筳濟濟、法門開不異之玄文、香炷金爐、誠通寶座。拜疏爲越南國......縣[]...社...村、家居

佛修香獻諷供經盂蘭勝會、薦拔先靈爲陽冥福慧事。今弟子...惟日焚香戒定、花獻蔓陀、仰干

大覺之尊俯鑒微誠之懇。竊念、弟子等生逢末法、幸遇勝因、同修片善之微因、共多生之福果。茲者辰維...月、節値蘭秋、玉宇生凉、金風蕩暑、肅清梵宇、焚戒定之眞香、嚴淨齋儀、獻伊蒲之妙味、諷誦

大乘法寶尊經 佛說盂蘭盆經、加持諸品神咒、繼以賑濟一壇、頂禮

三身寶相、萬德金容、集此殊勝善因、祈增福果。今則上供疏文、和南拜白。

南無盡虛空遍法界過現未來常住三寶作大證明。

南無娑婆敎主本師釋迦牟尼佛作大證明。

南無樂邦敎主接引導師阿彌陀佛作大證明。

南無華敎主當來下生勒尊佛作大證明。

南無遍法界諸尊菩薩摩訶薩。

南無大孝目犍連尊者。中奉、護法尊天、伽藍眞宰、歷代祖師、一切善神、不捨威光、同垂鑒格。伏願、大圓敎主、萬德洪名、捲風塵而眞源湛寂、收波浪而覺海澄清、祈當生共熏五分之香、願過去同超九蓮之會。上疏。

佛曆...歲次...年...月...日時。弟子眾等和南上疏

(疏)奉   白佛金章  弟子眾等和南上疏

 

Phiên âm:

 

Phục dĩ

Phạm tướng nguy nguy, sa giới ngưỡng vô biên chi thắng phước; trai diên tể tể, pháp môn khai bất dị chi huyền văn; hương chú kim lô, thành thông bảo tòa.

Bái sớ vị: Việt Nam Quốc … Tỉnh ... Huyện (Quận) ... Xã ... Thôn, gia cư phụng Phật, tu hương hiến phúng cúng kinh Vu Lan thắng hội, tiến bạt tiên linh, vị dương minh phước tuệ sự. Kim đệ tử … duy nhật, phần hương Giới Định, hoa hiến Mạn Đà; ngưỡng can Đại Giác chi tôn, phủ giám vi thành chi khẩn.

Thiết niệm: Đệ tử đẳng sanh phùng mạt pháp, hạnh ngộ thắng nhân; đồng tu phiến thiện chi vi nhân, cọng thực đa sanh chi phước quả. Tư giả thần duy … nguyệt, tiết trị lan Thu, ngọc vũ sanh lương, kim phong đãng thử; túc thanh Phạm vũ, phần Giới Định chi chơn hương; nghiêm tịnh trai nghi, hiến Y Bồ1 chi diệu vị; phúng tụng Đại Thừa pháp bảo tôn kinh, Phật Thuyết Vu Lan Bồn Kinh, gia trì chư phẩm thần chú, kế dĩ chẩn tế nhất đàn, đãnh lễ Tam Thân bảo tướng, vạn đức kim dung; tập thử thù thắng thiện nhân, kỳ tăng phước quả. Kim tắc thượng cúng sớ văn, hòa nam bái bạch:

Nam Mô Tận Hư Không Biến Pháp Giới Quá Hiện Vị Lai Thường Trú Tam Bảo tác đại chứng minh.

Nam Mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật tác đại chứng minh.

Nam Mô Lạc Bang Giáo Chủ Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật tác đại chứng minh.

Nam Mô Long Hoa Giáo Chủ Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật tác đại chứng minh.

Nam Mô Biến Pháp Giới Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.

Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Tôn Giả.

Trung phụng: Hộ Pháp tôn thiên, Già Lam chơn tể; lịch đại tổ sư, nhất thiết thiện thần; bất xả uy quang, đồng thùy giám cách.

Phục nguyện: Đại viên giáo chủ, vạn đức hồng danh; quyện phong trần nhi chơn nguyên trạm tịch, thâu ba lãng nhi giác hải trừng thanh; kỳ đương sanh cọng huân Ngũ Phận chi hương,2 nguyện quá khứ đồng siêu Cửu Liên chi hội. Thượng sớ.

Phật lịch … Tuế thứ … niên … nguyệt … nhật thời.

Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.

 

Dịch nghĩa:

 

Cúi nghĩ:

  1. tốt nguy nga, khắp nơi trọn hưởng vô biên phước báu; trai diên long trọng, pháp môn rộng mở nào khác huyền văn; hương đốt lò vàng, xông khắp tòa báu.

Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật, dâng hương tụng kinh, nhân dịp Vu Lan Thắng Hội, cúng các vong linh quá cố, cầu nguyện âm dương phước tuệ. Đệ tử ... hôm nay, đốt hương giới định, hiến hoa Mạn Đà; ngưỡng đấng Đại Giác hùng tôn, xót thương chứng giám tấc thành.

Nép nghĩ: Đệ tử chúng con, sanh đời mạt pháp, may gặp nhân lành; cùng tu chút nhỏ nhân lành, chung trồng nhiều đời quả phước. Nay gặp tháng …, tiết đúng mùa Thu; nhà ngọc mát tươi, gió vàng xua nóng; Thiền môn chỉnh túc, đốt nén Giới Định chơn hương; nghiêm tịnh nghi chay, dâng cúng vị ăn tuyệt hảo; xướng tụng pháp báu tôn kinh Đại Thừa, Phật Thuyết Vu Lan Bồn Kinh, trì thêm các phẩm thần chú; tiếp theo Chẩn Tế một đàn; đảnh lễ Ba Thân tướng báu, muôn đức dung vàng; lấy nhân tốt nầy, tích tập phước quả. Nay xin dâng trọn sớ văn, kính thành lạy thỉnh:

Kính lạy Ba Ngôi Báu quá khứ, hiện tại, tương lai trong pháp giới khắp hư không, chứng minh cho.

Kính lạy Phật Thích Ca Mâu Ni, giáo chủ Ta Bà, chứng minh cho.

Kính lạy Phật A Di Đà, giáo chủ Cực Lạc, chứng giám cho.

Kính lạy Phật Di Lặc, giáo chủ Long Hoa, hạ sanh tương lai, chứng minh cho.

Kính lạy chư vị Bồ Tát Ma Ha Tát trong khắp pháp giới.

Kính lạy đức Bồ Tát Đại Hiếu Mục Kiền Liên.

Cùng xin: Hộ pháp tôn thiên, chủ tể Già Lam, tổ sư nhiều đời; hết thảy thiện thần; thương xót phóng quang, xét soi chứng giám.

Lại nguyện: Đại viên giáo chủ, muôn đức tiếng thơm; quét gió bụi cho nguồn chơn vắng lặng, thâu sóng gió khiến biển giác lắng trong; cầu người sống thảy được Năm Loại hương thơm, nguyện kẻ mất đều qua Cửu Liên thắng hội. Kính dâng sớ.

Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...

Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.

 

Phần chú thích:

  1. Y Bồ (伊蒲): từ gọi khác của Ưu Bà (s: upasa, 優婆), nghĩa là thức ăn chay. Trong Phật Giáo thường có các dụng ngữ như “Y Bồ soạn (伊蒲饌, món ăn chay)”, “Y Bồ cúng (伊蒲供, thức cúng chay)”, v.v. Trong đó có từ “Y Bồ đệ nhất (伊蒲第一, thức ăn chay số một)” là muốn nói đến loại Nấm Trúc (竹蕈, trúc khuẩn). Từ thời nhà Tống trở đi, loại nấm nầy trở thành vật nổi tiếng nhất, là sản phẩm xuất xứ từ Dương Tiện (陽羡, ngày xưa gọi là Kinh Khê [荆溪], nay thuộc Ngô Hưng [呉興], Tỉnh Triết Giang [江省]). Theo tác phẩm Kinh Khê Sớ (荆溪疏) của Vương Trĩ Đăng (, 1535-1612) nhà Minh, loại Nấm Trúc nầy được đánh giá rất cao như: “Trúc Cô, khuẩn dã; tiểu như tiền, xích như Đơn Sa, sanh dĩ nhị nguyệt, sơn trung sở tại giai hữu chi, phong vị cực giai, đương vi Y Bồ đệ nhất (竹菇、蕈也、小如錢、赤如丹沙、生以二月、山中所在皆有之、風味極佳、當爲伊蒲第一, Nấm Trúc là một loại nấm, nhỏ như đồng tiền, đỏ như Đơn Sa, sanh trưởng vào tháng 2, trong núi sâu mới có nấm nầy, mùi vị vô cùng ngon, chính là món ăn chay số một).” Hay như trong Đông Pha Mộng (東坡夢) của Ngô Xương Linh (吳昌齡, ?-?) nhà Nguyên có câu: “Đô quy nhất cá không, chỉ hữu na Y Bồ cúng(都歸一個空只有那伊蒲供, thảy đều trở về tay không, chỉ có chút thức cúng chay).” Ngoài ra, trong bài Cẩm Châu Sắc Sứ Lưu Ấm Huyên Trú Tạng Hồi Thục Viễn Ký Tạng Phật Nhất Tôn Phú Tạ (錦州刺史劉蔭萱駐藏回蜀遠寄藏佛一尊賦謝) của Triệu Dực (趙翼, 1727-1814) nhà Thanh cũng có đoạn rằng: “Quý vô thất bảo trang nghiêm Bát Nhã tọa, diệc thiểu hữu bách hoa cúng dường Y Bồ diên(愧無七寶莊嚴般若坐,亦少有百花供養伊蒲筵, thẹn chẳng có bảy báu để trang nghiêm tòa Bát Nhã, lại ít có trăm hoa để cúng dường diên cỗ chay).”
  2. Ngũ Phận chi hương (五分之香): năm loại hương. Bậc Thánh vô học tự thân chứng đắc 5 pháp công đức hay Ngũ Phần Pháp Thân (五分法身), tức là: Giới Thân (戒身), Định Thân (定身), Tuệ Thân (慧身), Giải Thoát Thân (解脫身) và Giải Thoát Tri Kiến Thân (解脫知見身). Nếu lấy hương để ví dụ, tức là hương của Giới (s: śīla, p: sīla, ), hương của Định (s, p: samādhi, ), hương của Tuệ (s: prajñā, p: paññā, ), hương của Giải Thoát (s: vimukti, p: vimutti, 解脫)hương của Giải Thoát Tri [Trí] Kiến (s: vimuktijñāna-darśana, p: vimutti-ñāadassana, 脫知[]). Trong Đạt Ma Đại Sư Phá Tướng Luận (達磨大師破相論, CBETA No. 1220) của Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma (s: Bodhidharma, 菩提達磨) có giải thích về 5 phần hương rằng: “Thiêu hương giả, diệc phi thế gian hữu tướng chi hương, nãi thị vô vi Chánh Pháp chi hương dã; huân chư xú uế vô minh ác nghiệp, tất linh tiêu diệt; kỳ Chánh Pháp hương giả, hữu kỳ ngũ chủng: nhất giả Giới Hương, sở vị năng đoạn chư ác, năng tu chư thiện; nhị giả Định Hương, sở vị thâm tín Đại Thừa, tâm vô thối chuyển; tam giả Huệ Hương, sở vị thường ư thân tâm, nội tự quán sát; tứ giả Giải Thoát Hương, sở vị năng đoạn nhất thiết vô minh kết phược; ngũ giả Giải Thoát Tri Kiến Hương, sở vị quán chiếu thường minh, thông đạt vô ngại; như thị ngũ chủng hương, danh vi tối thượng chi hương, thế gian vô tỷ; Phật tại thế nhật, linh chư đệ tử, dĩ trí tuệ hỏa, thiêu như thị vô giá trân hương, cúng dường thập phương chư Phật(燒香者、亦非世間有相之香、乃是無爲正法之香也、薰諸臭穢無明惡業、悉令消滅、其正法香者、有其五種、一者戒香、所謂能斷諸惡、能修諸善、二者定香、所謂深信大乘、心無退轉、三者慧香、所謂常於身心、內自觀察、四者解脫香、所謂能斷一切無明結縛、五者解脫知見香、所謂觀照常明、通達無礙、如是五種香、名爲最上之香、世間無比、佛在世日、令諸弟子以智慧火、燒如是無價珍香、供養十方諸佛, đốt hương không phải là đốt loại hương có hình tướng của thế gian, mà là loại hương vô vi Chánh Pháp; xông các ác nghiệp vô minh nhơ nhớp, tất khiến tiêu diệt; loại hương Chánh Pháp ấy, có năm loại: một là Hương Giới, nghĩa là có thể đoạn trừ các điều ác, tu tập các việc lành; hai là Hương Định, nghĩa là tin sâu Đại Thừa, tâm không thối chuyển; ba là Hương Huệ, nghĩa là thường nơi thân tâm nầy quán sát bên trong; bốn là Hương Giải Thoát, nghĩa là có thể đoạn trừ các vô minh ràng buộc; năm là Hương Giải Thoát Tri Kiến, nghĩa là quán chiếu thường sáng tỏ, thông đạt không ngăn ngại; năm loại hương nầy được gọi là hương tối thượng, trên thế gian không gì sánh bằng; khi đức Phật còn tại thế, Ngài bảo các đệ tử lấy lửa trí tuệ, đốt loại hương trân quý như vậy để cúng dường mười phương chư Phật).” Cho nên, trong bài kệ niêm hương thường có câu: “Giới Hương, Định Hương dữ Huệ Hương, Giải Thoát, Giải Thoát Tri Kiến Hương, quang minh vân đài biến pháp giới, cúng dường thập phương vô thượng tôn (戒香定香慧香解脫解脫知見香、光明雲臺遍法界、供養十方無上尊, Hương Giới, Hương Định cùng Hương Huệ, Giải Thoát, Hương Giải Thoát Tri Kiến, sáng chói đài mây khắp pháp giới, cúng dường mười phương vô thượng tôn).”